• Các thành viên của E4VN nên đọc ebook bằng máy đọc sách Kindle để tránh mỏi mắt, hại mắt. Tham khảo các dòng máy đọc sách nổi tiếng tại https://www.maydocsach.vn/may-doc-sach-kindle/ Tất cả tài liệu, ebook đều là miễn phí.
    LƯU Ý: SPAM SẼ BỊ KHÓA TÀI KHOẢN NGAY LẬP TỨC, ĐỒNG THỜI CHẶN LUÔN TÊN MIỀN!!!
  • may doc sach kindle

Tiểu Luận đường lối công nghiệp hóa

kundunvt3

<font color="#CD7F32"><b>Bronze Member</b></font>
#1
Lịch sử công nghiệp hóa thế giới cho đến nay đã trải qua hơn 200 năm, kể từ cuộc cách
mạng công nghiệp cuối thế kỷ thứ XVIII ở nước Anh. Cuộc cách mạng công nghiệp này
sau đó nhanh chóng lan rộng sang các nước Tây Âu và các nước khác như một trào lưu
phát triển mới của thế giới. Khi đó, theo cách hiểu đơn giản, công nghiệp hóa đơn thuần
chỉ là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, nhằm biến
một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp phát triển. Tuy nhiên, tùy
thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính trị , xã hội mà quá trình phát triển công nghiệp hóa ở
mỗi quốc gia có những sự khác biệt. Ở Việt Nam, đường lối công nghiệp hóa có thể chia
ra làm 2 thời kỳ chính, trước và sau khi đổi mới ( Đại hội Đảng VI -1986).
I. Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới( 1960 - 1986)
1. Chủ trương của Đảng về công nghiệp hóa
a. Mục tiêu và phương hướng của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
- Đường lối công nghiệp hóa đất nước đã được hình thành từ Đại hội III (tháng 9-1960)
của Đảng. Quá trình công nghiệp hóa của nước ta diễn ra trong bối cảnh tình hình trong
nước và quốc tế luôn diễn biến phức tạp và không thuận chiều. Thực hiện công nghiệp
hóa được 4 năm (1960 – 1964) thì đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền
Bắc. Đất nước phải trực tiếp thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc vừa
chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa xây dựng kinh tế, miền Nam thực hiện cách
mạng giải phóng dân tộc. Khi đất nước vừa thống nhất (1975), cả nước đi lên chủ nghĩa
xã hội được vài năm thì lại xảy ra chiến tranh biên giới phía bắc, rồi kết thúc cuộc chiến
này lại kéo theo sự cấm vận của Mỹ. Như vậy, trước thời kỳ đổi mới, nước ta có khoảng
25 năm tiến hành công nghiệp hóa theo 2 giai đoạn: từ 1960 đến 1975 công nghiệp hóa ở
miền Bắc và từ 1975 – 1985 công nghiệp hóa trên phạm vi cả nước, hai giai đoạn này có
mục tiêu, phương hướng rõ rệt.
- Ở miền Bắc, đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên
chủ nghĩa xã hội không trải qua phát triển chủ nghĩa tư bản, mặt khác, vừa phải xây dựng
CNXH vừa phải chiến đấu chống Mỹ. Điểm xuất phát của Việt Nam khi bước vào thực
hiện CNH rất thấp. Năm 1960, công nghiệp chiếm tỷ trọng18,2% và 7% lao động xã hội;
tương ứng nông nghiệp chiếm tỷ trọng 42,3% và 83%. Sản lượng lương thực/người dưới
300 kg; GDP/người dưới 100 USD. Trong khi phân công lao động chưa phát triển và
LLSX còn ở trình độ thấp thì QHSX đã được đẩy lên trình độ tập thể hóa và quốc doanh
hóa là chủ yếu ( đến năm 1960: 85,8% nông dân vào HTX; 100% hộ tư sản được cải tạo,
gần 80% thợ thủ công cá thể vào HTX tiểu thủ công nghiệp). Trong bối cảnh đó, Đại hội
Đảng III xác định rõ mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là xây dựng
một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất
và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó là mục tiêu cơ bản, lâu dài, phải thực hiện qua nhiều
giai đoạn. + Về cơ cấu kinh tế, Đảng xác định: kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công
nghiệp nặng làm nền tảng. (Tỷ trọng giá trị công nghiệp tăng từ 18,2% /1960 lên
22,2%/1965; 26,6%/1971; 28,7%/1975)
+ Về chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa, Hội nghị TW lần thứ 7 (khóa III) nêu phương
hướng chỉ đạo xây dựng và phát triển công nghiệp là:
ãƯu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý.
ãKết hợp chặt chẽ phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp.
ãRa sức phát triển công nghiệp nhẹ song song với việc ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng. (Vốn đầu tư cho công nghiệp nặng trong thời kỳ 1960 - 1975 tăng 11,2 lần, cho
công nghiệp nhẹ tăng 6,9 lần, nông nghiệp tăng 6 lần)
ãRa sức phát triển công nghiệp trung ương, đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp
địa phương. (Hình thành các trung tâm công nghiệp như Hải Phòng, Quảng Ninh, Việt
Trì, Thái Nguyên, Nam Định )
=> Về thực chất, đây là sự lựa chọn mô hình chiến lược CNH thay thế nhập khẩu mà
nhiều nước, cả nước XHCN và nước TBCN đã và đang thực hiện lúc đó. Chiến lược này
được duy trì trong suốt 15 năm ở miền Bắc (1960 – 1975) và 10 năm tiếp theo trên phạm
vi cả nước ( 1976 – 1986).
- Trên phạm vi cả nước, sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cả nước độc lập thống nhất
và quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chiến lược “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng ” tiếp
tục được khẳng định lại sau 16 năm tại Đại hội IV của Đảng (1976) nhưng chính sách thì
đã có thay đổi chút ít “Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất
lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát
triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả
nước thành một cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa
phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong
một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất”.
Những thay đổi trong chính sách CNH dù còn chưa thật rõ nét song cũng đã tạo một sự
thay đổi nhất định trong phát triển:
+ Số xí nghiệp công nghiệp quốc doanh tăng từ 1913 cơ sở năm 1976 lên 2627 cơ sở năm
1980 và 3220 cơ sở năm 1985.
+ 1976 – 1978 công nghiệp phát triển khá. Năm 1978 tăng 118,2% so với năm 1976.
Tuy nhiên, do trên thực tế chúng ta chưa có đủ điều kiện để thực hiện (nguồn viện trợ từ
nước ngoài đột ngột giảm, cách thức quản lý nền kinh tế nặng tính quan liêu, bao cấp,
nhiều công trình nhà nước xây dựng dở dang vì thiếu vốn, công nghiệp trung ương giảm,
 

Đính kèm

Top