• Các thành viên của E4VN nên đọc ebook bằng máy đọc sách Kindle để tránh mỏi mắt, hại mắt. Tham khảo các dòng máy đọc sách nổi tiếng tại https://www.maydocsach.vn/may-doc-sach-kindle/ Tất cả tài liệu, ebook đều là miễn phí.
    LƯU Ý: SPAM SẼ BỊ KHÓA TÀI KHOẢN NGAY LẬP TỨC, ĐỒNG THỜI CHẶN LUÔN TÊN MIỀN!!!
  • may doc sach kindle

Luận Văn Hành động hỏi (trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt)

kundunvt3

<font color="#CD7F32"><b>Bronze Member</b></font>
#1
Luận án tiến sĩ năm 2014
Đề tài: Hành động hỏi (trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt)
Định dạng file word





MỤC LỤC


MỞ ĐẦU Trang

1. Lí do chọn đề tài . 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu . 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu . 7
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
5. Tư liệu và phương pháp nghiên cứu . 9
6. Đóng góp của luận án 12
7. Bố cục của luận án . 13
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU HÀNH ĐỘNG HỎI . 14
1.1. Dẫn nhập 14
1.2. Lí thuyết hành động ngôn từ . 14
1.2.1. Lí thuyết hành động ngôn từ và hành động hỏi . 14
1.2.2. Tính nghi vấn và hành động ngôn từ thực hiện bởi kết cấu hỏi 17
1.2.3. Nhận diện hành động hỏi . 27
1.3. Lí thuyết hội thoại . 36
1.3.1. Các đơn vị và qui tắc hội thoại 36
1.3.2. Tiền giả định và vận động hội thoại 40
1.3.3. Các yếu tố kèm lời, phi lời . 45
1.4. Tiểu kết chương 1 46
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM HÀNH ĐỘNG HỎI TRỰC TIẾP 47
2.1. Dẫn nhập 47
2.2. Đặc điểm biểu thức kết cấu hỏi thực hiện hành động hỏi trực tiếp 48
2.2.1. Biểu thức thực hiện hành động hỏi trực tiếp yêu cầu giải thích 48
2.2.2. Biểu thức thực hiện hành động hỏi trực tiếp yêu cầu lựa chọn . 64
2.2.3. Biểu thức thực hiện hành động hỏi trực tiếp yêu cầu xác nhận 66
2.2.4. Biểu thức thực hiện hành động hỏi trực tiếp yêu cầu phán định 70
2.3. Các dạng hồi đáp cho hành động hỏi trực tiếp 73
2.3.1. Hồi đáp ngôn ngữ cho hành động hỏi trực tiếp 74
2.3.2. Không hồi đáp ngôn ngữ đối với hành động hỏi trực tiếp 80
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hành động hỏi trực tiếp 81
2.4.1. Ảnh hưởng của độ tường minh tiền giả định . 82
2.4.2. Ảnh hưởng của tỉnh lược ngôn ngữ . 82
2.4.3. Ảnh hưởng của phép dùng kính ngữ . 84
2.4.4. Ảnh hưởng của áp lực yêu cầu cung cấp thông tin 87
2.4.5. Ảnh hưởng của các yếu tố tình thái-ngữ dụng khác 88
2.5. Tương đồng và dị biệt trong thực hiện hành động hỏi trực tiếp 90
2.5.1. Nét tương đồng 90
2.5.2. Nét dị biệt 92
2.6. Tiểu kết chương 2 94
CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM HÀNH ĐỘNG HỎI GIÁN TIẾP VÀ HÀNH ĐỘNG HỎI THỰC HIỆN BỞI MÔ HÌNH KẾT HỢP 96
3.1. Dẫn nhập 96
3.2. Đặc điểm biểu thức thực hiện hành động hỏi gián tiếp . 96
3.2.1. Biểu thức lược thành phần nghi vấn thực hiện hành động hỏi gián tiếp 97
3.2.2. Biểu thức có động từ yêu cầu cung cấp thông tin thực hiện hành động hỏi gián tiếp . 102
3.3. Đặc điểm mô hình kết hợp các biểu thức thực hiện hành động hỏi . 112
3.3.1. Mô hình kết hợp ngoại vi đa biểu thức . 113
3.3.2. Mô hình kết hợp nội tại đơn biểu thức . . 116
3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hành động hỏi gián tiếp và hành động hỏi thực hiện bởi mô hình kết hợp 119
3.4.1. Ảnh hưởng của độ tường minh tiền giả định 119
3.4.2. Ảnh hưởng của tỉnh lược ngôn ngữ 119
3.4.3. Ảnh hưởng của phép dùng kính ngữ 120
3.4.4. Ảnh hưởng của áp lực yêu cầu cung cấp thông tin 120
3.4.5. Ảnh hưởng của các yếu tố tình thái-ngữ dụng khác 123
3.5. Tương đồng và dị biệt trong thực hiện hành động hỏi gián tiếp và hành động hỏi thực hiện bởi mô hình kết hợp . 124
3.5.1. Nét tương đồng 124
3.5.2. Nét dị biệt . 126
3.6. Tiểu kết chương 3 127
CHƯƠNG 4. ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀO DẠY-HỌC 129
4.1. Dẫn nhập 129
4.2. Căn cứ, mục đích và nguyên lí thiết kế mô hình ứng dụng . 129
4.2.1. Căn cứ thiết kế 129
4.2.2. Mục đích và mục tiêu thiết kế 134
4.2.3. Nguyên lí thiết kế . 135
4.3. Thiết kế mô hình ứng dụng vào dạy-học tiếng Hàn . 135
4.3.1. Điều kiện chuẩn bị 135
4.3.2. Mô hình rèn kĩ năng thực hiện hành động hỏi-trả lời . 136
4.3.3. Hướng phân bố nội dung giảng dạy hành động hỏi-trả lời 145
4.4. Tiểu kết chương 4 146
KẾT LUẬN . 147




MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, xuất hiện khá nhiều các nghiên cứu về hành động ngôn từ tiếng Hàn và tiếng Việt. Trong tiếng Hàn có các công trình nghiên cứu về hành động thỉnh cầu và từ chối của tác giả Park Yong Ye [107], hành động từ chối của tác giả Heo Sang Hee [90], hành động khen của các tác giả Lee Won Pyo [103], Song Young Mi [117], hành động tiếp nhận và từ chối đối với hành động thỉnh cầu của tác giả Jang Gyeung Hee [91], hành động giải thích của tác giả Je Hye Sook [92], hành động xin lỗi của tác giả Kim In Gyu [93], hành động hỏi của tác giả Lee Jang Deuk [99] Trong tiếng Việt có hành động thỉnh cầu của tác giả Nguyễn Văn Độ [17], hành động từ chối của các tác giả Nguyễn Phương Chi [12], Nguyễn Thị Hai [24], hành động cam kết của tác giả Vũ Thị Tố Nga [49], hành động yêu cầu của tác giả Tôn Nữ Mỹ Nhật [50], hành động cảm thán của tác giả Hà Thị Hải Yến [80], hành động chê của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến [82], hành động hỏi của tác giả Mai Thị Kiều Phượng [53], Nguyễn Việt Tiến [69]
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ giao lưu văn hóa và hợp tác quốc tế toàn diện giữa hai nước Việt-Hàn, các nghiên cứu về ngôn ngữ-văn hóa Việt-Hàn ngày càng được quan tâm và đạt được những thành công đáng ghi nhận. Về ngôn ngữ và văn hóa có các tác giả Nguyễn Thùy Dương [16], Hoàng Thị Yến [83] ; ngôn ngữ và đối chiếu ngôn ngữ có các tác giả Lưu Tuấn Anh [1], Trần Thị Hường [38], Lã Thị Thanh Mai [47], Park Ji Hoon [51] ; giảng dạy và thiết kế chương trình có các tác giả Ahn Kyong Hwan [2], Hoàng Thị Yến [84], Nguyễn Lệ Thu [118] ; Hàn Quốc học có các tác giả Cao Thị Hải Bắc [5], Nguyễn Thu Vân [78], Trần Thị Bích Phượng [111]
Kết quả khảo sát cho thấy: Nghiên cứu về câu hỏi và hành động ngôn từ được thực hiện bởi câu hỏi trong tiếng Hàn, tiếng Việt đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, chưa thấy xuất hiện các công trình nghiên cứu về hành động hỏi với tư cách là hành động ngôn từ cũng như hành động hỏi tiếng Hàn (trong mối liên hệ với tiếng Việt) một cách toàn diện và hệ thống. Điều này cho thấy: Nghiên cứu hành động hỏi chưa nhận được sự quan tâm đầy đủ trong khi hoạt động nhận thức phải sử dụng đến hành động hỏi như một “vòng khâu”, một công cụ quan trọng để xác định đối tượng, nhiệm vụ và định hướng tư duy, suy nghĩ [19, tr.2-3]. Ngoài ra, yêu cầu vượt qua rào cản ngôn ngữ trong giao lưu quốc tế khiến nhu cầu học tập, nghiên cứu tiếng Hàn, tiếng Việt ngày càng tăng. Tuy hai nước có nhiều tương đồng do ảnh hưởng của văn hóa chữ Hán nhưng ngôn ngữ lại thuộc ngữ hệ khác nhau. Về biểu hiện văn hóa bằng ngôn từ, hành vi ứng xử cũng có những nét khác biệt do đặc trưng dân tộc, hoàn cảnh tự nhiên và quá trình phát triển lịch sử .Do vậy, kết quả nghiên cứu, đặc biệt là các điểm tương đồng và dị biệt về ngôn ngữ-văn hóa khi thực hiện hành động hỏi sẽ có ích khi ứng dụng vào dạy-học tiếng Hàn và tiếng Việt. Vì những lí do trên, luận án “Hành động hỏi (trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt)” ra đời sẽ phần nào đáp ứng nhu cầu xã hội về nghiên cứu và giảng dạy, dịch thuật, giao lưu-hợp tác quốc tế giữa hai nước Việt-Hàn.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Phạm vi khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề của luận án gồm các công trình nghiên cứu về hành động hỏi và phương tiện ngôn ngữ thực hiện hành động hỏi của các tác giả Nguyễn Việt Tiến [69], Lee Jang Deuk [99] , nghiên cứu về ngữ nghĩa-ngữ dụng của câu hỏi chính danh của các tác giả Lê Đông [19], Võ Đại Quang [54], Nguyễn Đăng Sửu [56] , các nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn của các loại câu chia theo mục đích phát ngôn của tác giả Đặng Thị Hảo Tâm [58] Chúng tôi xem xét tổng quan theo các phạm trù: i) Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu; ii) Khái niệm và dấu hiệu nhận biết hành động hỏi; iii) Đặc điểm phương tiện ngôn ngữ của hành động hỏi; iv) Hướng ứng dụng kết quả nghiên cứu. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hướng triển khai đề tài “Hành động hỏi (trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt)”.
2.1. Về cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
Nhìn chung, các vấn đề lí thuyết được đề cập trong các công trình về hành động hỏi và câu hỏi theo hướng ngữ nghĩa-ngữ dụng phù hợp với đặc trưng và nhiệm vụ nghiên cứu. Kết quả khảo sát cho thấy, cơ sở lí luận của các công trình đó thường là sự kết hợp của các lí thuyết khác nhau. Ví dụ như: Các tác giả Cho Young Sim [85], Ryu Hyeon Mi [112, 113] đề cập đến lí thuyết hội thoại, lí thuyết hành động ngôn từ; tác giả Nguyễn Thị Lương [46] đề cập đến lí thuyết hành động ngôn từ, tính tình thái và lí thuyết lập luận; các tác giả Võ Đại Quang [54], Nguyễn Đăng Sửu [57], Nguyễn Việt Tiến [69] đề cập đến lí thuyết hành động ngôn từ, lí luận đối chiếu ngôn ngữ Tuy nhiên, cơ sở lí luận của một vài công trình mới chỉ dừng lại ở mức độ tổng hợp, giới thiệu khái quát.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành động hỏi tiếng Hàn với tư cách là hành động ngôn từ yêu cầu cung cấp thông tin (trong liên hệ với tiếng Việt), kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn dạy-học tiếng Hàn tại Việt Nam. Vì vậy, cơ sở lí luận được xác định là lí thuyết hành động ngôn từ và lí thuyết hội thoại. Bên cạnh đó, lí luận đối chiếu ngôn ngữ giúp tách ra các nét tương đồng và dị biệt về ngôn ngữ-văn hóa trong thực hiện hành động hỏi. Lí luận dạy-học ngôn ngữ là căn cứ giáo học pháp của việc thiết kế mô hình ứng dụng. Chúng tôi cố gắng vận dụng các lí thuyết nêu trên vào việc xem xét hành động hỏi nhằm hoàn thành tốt các nhiệm vụ nghiên cứu mà luận án đề ra.
2.2. Về khái niệm và dấu hiệu nhận biết hành động hỏi
Qua nghiên cứu tổng quan, chúng tôi thấy trong tiếng Hàn và tiếng Việt có ít nhất hai cách hiểu về thuật ngữ “hành động hỏi”, cụ thể như sau:
Một là, “hành động hỏi” là hành động dùng kết cấu hỏi để yêu cầu cung cấp thông tin hoặc thực hiện các mục đích giao tiếp khác như: yêu cầu thực hiện hành động (cầu khiến), thể hiện tình cảm, thái độ (biểu cảm) (trong công trình của các tác giả Mai Thị Kiều Phượng [53], Đặng Thị Hảo Tâm [58], Lee Jang Duk [99] ). Thực chất, đây là những nghiên cứu về ngữ nghĩa-ngữ dụng của câu hỏi theo hướng nghiên cứu ngữ pháp chức năng.
Hai là, “hành động hỏi” là “hành động ngôn từ” (theo quan niệm của Austin) hướng tới yêu cầu cung cấp thông tin chưa biết cần biết, thực hiện bởi các phương tiện ngôn ngữ có hình thái là kết cấu hỏi và các kết cấu khác (trong nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Lương [46], Nguyễn Việt Tiến [69], Choi Myung Ok [86] Park Jong Gap [105], Seo Jung Mok [114] ). Luận án triển khai theo hướng ngữ dụng học nên dùng thuật ngữ “hành động hỏi” theo cách hiểu thứ hai.
Dấu hiệu nhận biết câu hỏi dùng để hỏi, hành động hỏi và hành động ngôn từ gián tiếp thực hiện bởi kết cấu hỏi được một số tác giả quan tâm và đề cập. Các tác giả Nguyễn Thị Thìn [65], Park Young Soon [108, 109], Seo Soon Hee [115] đưa ra dấu hiệu nhận biết câu hỏi dùng để hỏi trong sự khu biệt với các câu hỏi không dùng để hỏi. Các tác giả Nguyễn Thị Lương [46], Nguyễn Thị Thìn [64, 65], Lee Chang Duk [99] đề cập đến dấu hiệu nhận biết hành động ngôn từ được thực hiện gián tiếp bởi kết cấu hỏi, dựa vào các dấu hiệu này, ta có thể tách ra hành động hỏi trực tiếp yêu cầu cung cấp thông tin. Tác giả Mai Thị Kiều Phượng [53] tiến hành nhận diện hành động hỏi trực tiếp (yêu cầu cung cấp thông tin chưa biết, cần biết) và hành động hỏi gián tiếp (theo tác giả là các hành động cầu khiến, biểu hiện thái độ/ tình cảm) của phát ngôn hỏi ở bình diện kết học, nghĩa học và dụng học .
Có thể thấy, tiêu chí và cách phân loại, căn cứ định danh câu hỏi, quan niệm về hành động hỏi trong các công trình liên quan đến hành động hỏi tiếng Hàn và tiếng Việt còn thiếu nhất quán. Dấu hiệu nhận diện câu hỏi dùng để hỏi, hành động hỏi yêu cầu cung cấp thông tin được một số nhà nghiên cứu đề cập nhưng chưa đầy đủ. Đặc biệt, hành động hỏi yêu cầu cung cấp thông tin được thực hiện gián tiếp bởi các biểu thức không mang kết cấu hỏi chưa được chú ý và nhận diện.
Trong thực tế, việc xác định một hệ thống thuật ngữ phù hợp để sử dụng trong một nghiên cứu cụ thể là cần thiết. Trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu có trước, chúng tôi hệ thống và xác định các thuật ngữ sử dụng trong luận án. Các tiêu chí, qui trình nhận diện hành động hỏi được xác định là căn cứ nhận diện hành động ngôn từ khi khảo sát, phân tích và thống kê xử lí tư liệu.
2.3. Về phương tiện ngôn ngữ thực hiện hành động hỏi
Khảo sát các công trình liên quan cho thấy: Hai phương thức trực tiếp và gián tiếp khi thực hiện hành động hỏi trong tiếng Hàn và tiếng Việt bước đầu nhận được sự quan tâm và đầu tư nghiên cứu. Phương tiện ngôn ngữ thực hiện hành động hỏi




TÀI LIỆU THAM KHẢO-TRÍCH DẪN
TIẾNG VIỆT
[1] Lưu Tuấn Anh (2003), Bước đầu tìm hiểu về ngôn từ ứng xử trong hội thoại tiếng Hàn. Phương Đông hợp tác và phát triển: Kỉ yếu HTTQ Đông phương học Việt Nam lần 2. Nxb ĐHQGHN.
[2] Ahn Kyong Hwan (2009), Phương hướng xây dựng chương trình giảng dạy tiếng Hàn chuyên sâu tại Việt Nam, Ngôn ngữ & Đời sống, số 3/2009. tr.14-18.
[3] Diệp Quang Ban (1989) Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, Nxb Đại học & Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội
[4] Diệp Quang Ban (2012), Giao tiếp, Diễn ngôn và Cấu tạo của văn bản, Nxb Giáo dục Việt Nam, 559 tr
[5] Cao Thị Hải Bắc (2012), Quan hệ xã hội và vốn xã hội: So sánh người Việt Nam và người Hàn Quốc, Xã hội học, số 3 (119) 2012
[6] Nguyễn Thị Thanh Bình (1992), Bước đầu tìm hiểu về hành động ngôn từ “cầu khiến” trong giao tiếp tiếng Việt. Tham luận HNKH Viện Ngôn ngữ học 1992.
[7] Nguyễn Thị Thanh Bình (1996). Sự lễ phép trong giao tiếp ngôn ngữ gia đình ở lời cầu khiến. Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt (Nguyễn Văn Khang chủ biên). Nxb Văn hoá thông tin, tr.158-175.
[8] Nguyễn Thị Thanh Bình (2000). Quan hệ ‘quyền’ và hành động ngôn từ ‘cầu khiến’ ở gia đình nông dân Việt. Ngôn từ, giới và nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt, (Luong Van Hy chủ biên). Nxb KHXH, tr.266-296.
[9] Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1983), Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, ĐHSP I, Nxb Giáo dục
[10] Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương Ngôn ngữ học, tập hai: Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, 428 tr
[11] Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập, tập 2: Đại cương-Ngữ dụng học-Ngữ pháp văn bản, Nxb Giáo dục, 927 tr
[12] Nguyễn Phương Chi (2004), Hành vi từ chối, luận án tiến sĩ, Hà Nội
[13] Nguyễn Văn Chiến (1992), Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á, trường ĐH Sư phạm Ngoại ngữ (ĐHNN-ĐHQGHN), HN.,219 tr.
[14] Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, Nxb Giáo dục, HN, 259 tr.
[15] Trần Trí Dõi (2008), Vấn đề lựa chọn ngôn ngữ trong tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ ở một vài dân tộc thiểu số của Việt Nam, Ngôn ngữ, số 11/2008, tr.10-13.
[16] Nguyễn Thùy Dương (2013), Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn, luận văn thạc sĩ, Đại học KHXH & NV, ĐHQGHN.
[17] Nguyễn Văn Độ (1999), Các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện hành động thỉnh cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án tiến sĩ, ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN.
[18] Lê Đông (1985), Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Ngôn ngữ, số phụ số 1
[19] Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa-ngữ dụng câu hỏi chính danh (trên ngữ liệu tiếng Việt), luận án tiến sĩ, ĐHKH XH & NV, ĐHQGHN
[20] Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ. Nxb ĐHQGHN
[21] Nguyễn Thiện Giáp (2010), 777 khái niệm ngôn ngữ học, Nxb ĐHQGHN, 521tr
[22] Nguyễn Thiện Giáp (2012), Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo dục Việt Nam, 611tr.
[23] George Yule (2003) Dụng học: Một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ, ĐH Oxford, hiệu đính Diệp Quang Ban, Nxb ĐHQGHN, 191 tr.
[24] Nguyễn Thị Hai (2001), Hành động từ chối trong tiếng Việt hiện đại, Ngôn ngữ, số 1, tr.1-12
[25] Hoàng Văn Hành (2010), Tuyển tập Ngôn ngữ học, Nxb KHXH, 569tr.
 
Top