• Các thành viên của E4VN nên đọc ebook bằng máy đọc sách Kindle để tránh mỏi mắt, hại mắt. Tham khảo các dòng máy đọc sách nổi tiếng tại https://www.maydocsach.vn/may-doc-sach-kindle/ Tất cả tài liệu, ebook đều là miễn phí.
    LƯU Ý: SPAM SẼ BỊ KHÓA TÀI KHOẢN NGAY LẬP TỨC, ĐỒNG THỜI CHẶN LUÔN TÊN MIỀN!!!
  • may doc sach kindle

Thạc Sỹ Hành động hỏi (trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt)

phytoplanton

Thành Viên Tích Cực
#1
LUẬN ÁN TIẾN SỸ
NĂM 2014

[TABLE="width: 619, align: center"]
[TR]
[TD]MỞ ĐẦU
[/TD]
[TD]Trang
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]
[/TD]
[TD]
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 1. Lí do chọn đề tài .
[/TD]
[TD]1
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]2. Tổng quan tình hình nghiên cứu .
[/TD]
[TD]2
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .
[/TD]
[TD]7
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
[/TD]
[TD]8
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 5. Tư liệu và phương pháp nghiên cứu .
[/TD]
[TD]9
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]6. Đóng góp của luận án
[/TD]
[TD]12
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]7. Bố cục của luận án .
[/TD]
[TD]13
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU HÀNH ĐỘNG HỎI .
[/TD]
[TD]14
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 1.1. Dẫn nhập
[/TD]
[TD]14
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]1.2. Lí thuyết hành động ngôn từ .
[/TD]
[TD]14
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 1.2.1. Lí thuyết hành động ngôn từ và hành động hỏi .
[/TD]
[TD]14
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 1.2.2. Tính nghi vấn và hành động ngôn từ thực hiện bởi kết cấu hỏi
[/TD]
[TD]17
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 1.2.3. Nhận diện hành động hỏi .
[/TD]
[TD]27
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]1.3. Lí thuyết hội thoại .
[/TD]
[TD]36
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 1.3.1. Các đơn vị và qui tắc hội thoại
[/TD]
[TD]36
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 1.3.2. Tiền giả định và vận động hội thoại
[/TD]
[TD]40
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 1.3.3. Các yếu tố kèm lời, phi lời .
[/TD]
[TD]45
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 1.4. Tiểu kết chương 1
[/TD]
[TD]46
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM HÀNH ĐỘNG HỎI TRỰC TIẾP
[/TD]
[TD]47
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.1. Dẫn nhập
[/TD]
[TD]47
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]2.2. Đặc điểm biểu thức kết cấu hỏi thực hiện hành động hỏi trực tiếp
[/TD]
[TD]48
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.2.1. Biểu thức thực hiện hành động hỏi trực tiếp yêu cầu giải thích
[/TD]
[TD]48
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.2.2. Biểu thức thực hiện hành động hỏi trực tiếp yêu cầu lựa chọn .
[/TD]
[TD]64
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.2.3. Biểu thức thực hiện hành động hỏi trực tiếp yêu cầu xác nhận
[/TD]
[TD]66
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.2.4. Biểu thức thực hiện hành động hỏi trực tiếp yêu cầu phán định
[/TD]
[TD]70
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]2.3. Các dạng hồi đáp cho hành động hỏi trực tiếp
[/TD]
[TD]73
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.3.1. Hồi đáp ngôn ngữ cho hành động hỏi trực tiếp
[/TD]
[TD]74
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.3.2. Không hồi đáp ngôn ngữ đối với hành động hỏi trực tiếp
[/TD]
[TD]80
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hành động hỏi trực tiếp
[/TD]
[TD]81
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.4.1. Ảnh hưởng của độ tường minh tiền giả định .
[/TD]
[TD]82
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.4.2. Ảnh hưởng của tỉnh lược ngôn ngữ .
[/TD]
[TD]82
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.4.3. Ảnh hưởng của phép dùng kính ngữ .
[/TD]
[TD]84
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.4.4. Ảnh hưởng của áp lực yêu cầu cung cấp thông tin
[/TD]
[TD]87
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.4.5. Ảnh hưởng của các yếu tố tình thái-ngữ dụng khác
[/TD]
[TD]88
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]2.5. Tương đồng và dị biệt trong thực hiện hành động hỏi trực tiếp
[/TD]
[TD]90
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.5.1. Nét tương đồng
[/TD]
[TD]90
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 2.5.2. Nét dị biệt
[/TD]
[TD]92
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]2.6. Tiểu kết chương 2
[/TD]
[TD]94
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM HÀNH ĐỘNG HỎI GIÁN TIẾP VÀ HÀNH ĐỘNG HỎI THỰC HIỆN BỞI MÔ HÌNH KẾT HỢP
[/TD]
[TD]96
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.1. Dẫn nhập
[/TD]
[TD]96
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]3.2. Đặc điểm biểu thức thực hiện hành động hỏi gián tiếp .
[/TD]
[TD]96
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.2.1. Biểu thức lược thành phần nghi vấn thực hiện hành động hỏi gián tiếp
[/TD]
[TD]97
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.2.2. Biểu thức có động từ yêu cầu cung cấp thông tin thực hiện hành động hỏi gián tiếp .
[/TD]
[TD]102
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]3.3. Đặc điểm mô hình kết hợp các biểu thức thực hiện hành động hỏi .
[/TD]
[TD]112
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.3.1. Mô hình kết hợp ngoại vi đa biểu thức .
[/TD]
[TD]113
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.3.2. Mô hình kết hợp nội tại đơn biểu thức . .
[/TD]
[TD]116
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện hành động hỏi gián tiếp và hành động hỏi thực hiện bởi mô hình kết hợp
[/TD]
[TD]119
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.4.1. Ảnh hưởng của độ tường minh tiền giả định
[/TD]
[TD]119
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.4.2. Ảnh hưởng của tỉnh lược ngôn ngữ
[/TD]
[TD]119
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.4.3. Ảnh hưởng của phép dùng kính ngữ
[/TD]
[TD]120
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.4.4. Ảnh hưởng của áp lực yêu cầu cung cấp thông tin
[/TD]
[TD]120
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.4.5. Ảnh hưởng của các yếu tố tình thái-ngữ dụng khác
[/TD]
[TD]123
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]3.5. Tương đồng và dị biệt trong thực hiện hành động hỏi gián tiếp và hành động hỏi thực hiện bởi mô hình kết hợp .
[/TD]
[TD]124
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.5.1. Nét tương đồng
[/TD]
[TD]124
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 3.5.2. Nét dị biệt .
[/TD]
[TD]126
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]3.6. Tiểu kết chương 3
[/TD]
[TD]127
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]CHƯƠNG 4. ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀO DẠY-HỌC
[/TD]
[TD]129
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 4.1. Dẫn nhập
[/TD]
[TD]129
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]4.2. Căn cứ, mục đích và nguyên lí thiết kế mô hình ứng dụng .
[/TD]
[TD]129
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 4.2.1. Căn cứ thiết kế
[/TD]
[TD]129
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 4.2.2. Mục đích và mục tiêu thiết kế
[/TD]
[TD]134
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 4.2.3. Nguyên lí thiết kế .
[/TD]
[TD]135
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]4.3. Thiết kế mô hình ứng dụng vào dạy-học tiếng Hàn .
[/TD]
[TD]135
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 4.3.1. Điều kiện chuẩn bị
[/TD]
[TD]135
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 4.3.2. Mô hình rèn kĩ năng thực hiện hành động hỏi-trả lời .
[/TD]
[TD]136
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD] 4.3.3. Hướng phân bố nội dung giảng dạy hành động hỏi-trả lời
[/TD]
[TD]145
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]4.4. Tiểu kết chương 4
[/TD]
[TD]146
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]KẾT LUẬN .
[/TD]
[TD]147
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]TÀI LIỆU THAM KHẢO, TRÍCH DẪN
[/TD]
[TD]151
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN
[/TD]
[TD]162
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]PHỤ LỤC
[/TD]
[TD]163
[/TD]
[/TR]
[/TABLE]

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, xuất hiện khá nhiều các nghiên cứu về hành động ngôn từ tiếng Hàn và tiếng Việt. Trong tiếng Hàn có các công trình nghiên cứu về hành động thỉnh cầu và từ chối của tác giả Park Yong Ye [107], hành động từ chối của tác giả Heo Sang Hee [90], hành động khen của các tác giả Lee Won Pyo [103], Song Young Mi [117], hành động tiếp nhận và từ chối đối với hành động thỉnh cầu của tác giả Jang Gyeung Hee [91], hành động giải thích của tác giả Je Hye Sook [92], hành động xin lỗi của tác giả Kim In Gyu [93], hành động hỏi của tác giả Lee Jang Deuk [99] Trong tiếng Việt có hành động thỉnh cầu của tác giả Nguyễn Văn Độ [17], hành động từ chối của các tác giả Nguyễn Phương Chi [12], Nguyễn Thị Hai [24], hành động cam kết của tác giả Vũ Thị Tố Nga [49], hành động yêu cầu của tác giả Tôn Nữ Mỹ Nhật [50], hành động cảm thán của tác giả Hà Thị Hải Yến [80], hành động chê của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến [82], hành động hỏi của tác giả Mai Thị Kiều Phượng [53], Nguyễn Việt Tiến [69]
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ giao lưu văn hóa và hợp tác quốc tế toàn diện giữa hai nước Việt-Hàn, các nghiên cứu về ngôn ngữ-văn hóa Việt-Hàn ngày càng được quan tâm và đạt được những thành công đáng ghi nhận. Về ngôn ngữ và văn hóa có các tác giả Nguyễn Thùy Dương [16], Hoàng Thị Yến [83] ; ngôn ngữ và đối chiếu ngôn ngữ có các tác giả Lưu Tuấn Anh [1], Trần Thị Hường [38], Lã Thị Thanh Mai [47], Park Ji Hoon [51] ; giảng dạy và thiết kế chương trình có các tác giả Ahn Kyong Hwan [2], Hoàng Thị Yến [84], Nguyễn Lệ Thu [118] ; Hàn Quốc học có các tác giả Cao Thị Hải Bắc [5], Nguyễn Thu Vân [78], Trần Thị Bích Phượng [111]
Kết quả khảo sát cho thấy: Nghiên cứu về câu hỏi và hành động ngôn từ được thực hiện bởi câu hỏi trong tiếng Hàn, tiếng Việt đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, chưa thấy xuất hiện các công trình nghiên cứu về hành động hỏi với tư cách là hành động ngôn từ cũng như hành động hỏi tiếng Hàn (trong mối liên hệ với tiếng Việt) một cách toàn diện và hệ thống. Điều này cho thấy: Nghiên cứu hành động hỏi chưa nhận được sự quan tâm đầy đủ trong khi hoạt động nhận thức phải sử dụng đến hành động hỏi như một “vòng khâu”, một công cụ quan trọng để xác định đối tượng, nhiệm vụ và định hướng tư duy, suy nghĩ [19, tr.2-3]. Ngoài ra, yêu cầu vượt qua rào cản ngôn ngữ trong giao lưu quốc tế khiến nhu cầu học tập, nghiên cứu tiếng Hàn, tiếng Việt ngày càng tăng. Tuy hai nước có nhiều tương đồng do ảnh hưởng của văn hóa chữ Hán nhưng ngôn ngữ lại thuộc ngữ hệ khác nhau. Về biểu hiện văn hóa bằng ngôn từ, hành vi ứng xử cũng có những nét khác biệt do đặc trưng dân tộc, hoàn cảnh tự nhiên và quá trình phát triển lịch sử .Do vậy, kết quả nghiên cứu, đặc biệt là các điểm tương đồng và dị biệt về ngôn ngữ-văn hóa khi thực hiện hành động hỏi sẽ có ích khi ứng dụng vào dạy-học tiếng Hàn và tiếng Việt. Vì những lí do trên, luận án “Hành động hỏi (trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt)” ra đời sẽ phần nào đáp ứng nhu cầu xã hội về nghiên cứu và giảng dạy, dịch thuật, giao lưu-hợp tác quốc tế giữa hai nước Việt-Hàn.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Phạm vi khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề của luận án gồm các công trình nghiên cứu về hành động hỏi và phương tiện ngôn ngữ thực hiện hành động hỏi của các tác giả Nguyễn Việt Tiến [69], Lee Jang Deuk [99] , nghiên cứu về ngữ nghĩa-ngữ dụng của câu hỏi chính danh của các tác giả Lê Đông [19], Võ Đại Quang [54], Nguyễn Đăng Sửu [56] , các nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn của các loại câu chia theo mục đích phát ngôn của tác giả Đặng Thị Hảo Tâm [58] Chúng tôi xem xét tổng quan theo các phạm trù: i) Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu; ii) Khái niệm và dấu hiệu nhận biết hành động hỏi; iii) Đặc điểm phương tiện ngôn ngữ của hành động hỏi; iv) Hướng ứng dụng kết quả nghiên cứu. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hướng triển khai đề tài “Hành động hỏi (trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt)”.
2.1. Về cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
Nhìn chung, các vấn đề lí thuyết được đề cập trong các công trình về hành động hỏi và câu hỏi theo hướng ngữ nghĩa-ngữ dụng phù hợp với đặc trưng và nhiệm vụ nghiên cứu. Kết quả khảo sát cho thấy, cơ sở lí luận của các công trình đó thường là sự kết hợp của các lí thuyết khác nhau. Ví dụ như: Các tác giả Cho Young Sim [85], Ryu Hyeon Mi [112, 113] đề cập đến lí thuyết hội thoại, lí thuyết hành động ngôn từ; tác giả Nguyễn Thị Lương [46] đề cập đến lí thuyết hành động ngôn từ, tính tình thái và lí thuyết lập luận; các tác giả Võ Đại Quang [54], Nguyễn Đăng Sửu [57], Nguyễn Việt Tiến [69] đề cập đến lí thuyết hành động ngôn từ, lí luận đối chiếu ngôn ngữ Tuy nhiên, cơ sở lí luận của một vài công trình mới chỉ dừng lại ở mức độ tổng hợp, giới thiệu khái quát.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành động hỏi tiếng Hàn với tư cách là hành động ngôn từ yêu cầu cung cấp thông tin (trong liên hệ với tiếng Việt), kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn dạy-học tiếng Hàn tại Việt Nam. Vì vậy, cơ sở lí luận được xác định là lí thuyết hành động ngôn từ và lí thuyết hội thoại. Bên cạnh đó, lí luận đối chiếu ngôn ngữ giúp tách ra các nét tương đồng và dị biệt về ngôn ngữ-văn hóa trong thực hiện hành động hỏi. Lí luận dạy-học ngôn ngữ là căn cứ giáo học pháp của việc thiết kế mô hình ứng dụng. Chúng tôi cố gắng vận dụng các lí thuyết nêu trên vào việc xem xét hành động hỏi nhằm hoàn thành tốt các nhiệm vụ nghiên cứu mà luận án đề ra.
2.2. Về khái niệm và dấu hiệu nhận biết hành động hỏi
Qua nghiên cứu tổng quan, chúng tôi thấy trong tiếng Hàn và tiếng Việt có ít nhất hai cách hiểu về thuật ngữ “hành động hỏi”, cụ thể như sau:
Một là, “hành động hỏi” là hành động dùng kết cấu hỏi để yêu cầu cung cấp thông tin hoặc thực hiện các mục đích giao tiếp khác như: yêu cầu thực hiện hành động (cầu khiến), thể hiện tình cảm, thái độ (biểu cảm) (trong công trình của các tác giả Mai Thị Kiều Phượng [53], Đặng Thị Hảo Tâm [58], Lee Jang Duk [99] ). Thực chất, đây là những nghiên cứu về ngữ nghĩa-ngữ dụng của câu hỏi theo hướng nghiên cứu ngữ pháp chức năng.
Hai là, “hành động hỏi” là “hành động ngôn từ” (theo quan niệm của Austin) hướng tới yêu cầu cung cấp thông tin chưa biết cần biết, thực hiện bởi các phương tiện ngôn ngữ có hình thái là kết cấu hỏi và các kết cấu khác (trong nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Lương [46], Nguyễn Việt Tiến [69], Choi Myung Ok [86] Park Jong Gap [105], Seo Jung Mok [114] ). Luận án triển khai theo hướng ngữ dụng học nên dùng thuật ngữ “hành động hỏi” theo cách hiểu thứ hai.
Dấu hiệu nhận biết câu hỏi dùng để hỏi, hành động hỏi và hành động ngôn từ gián tiếp thực hiện bởi kết cấu hỏi được một số tác giả quan tâm và đề cập. Các tác giả Nguyễn Thị Thìn [65], Park Young Soon [108, 109], Seo Soon Hee [115] đưa ra dấu hiệu nhận biết câu hỏi dùng để hỏi trong sự khu biệt với các câu hỏi không dùng để hỏi. Các tác giả Nguyễn Thị Lương [46], Nguyễn Thị Thìn [64, 65], Lee Chang Duk [99] đề cập đến dấu hiệu nhận biết hành động ngôn từ được thực hiện gián tiếp bởi kết cấu hỏi, dựa vào các dấu hiệu này, ta có thể tách ra hành động hỏi trực tiếp yêu cầu cung cấp thông tin. Tác giả Mai Thị Kiều Phượng [53] tiến hành nhận diện hành động hỏi trực tiếp (yêu cầu cung cấp thông tin chưa biết, cần biết) và hành động hỏi gián tiếp (theo tác giả là các hành động cầu khiến, biểu hiện thái độ/ tình cảm) của phát ngôn hỏi ở bình diện kết học, nghĩa học và dụng học .
Có thể thấy, tiêu chí và cách phân loại, căn cứ định danh câu hỏi, quan niệm về hành động hỏi trong các công trình liên quan đến hành động hỏi tiếng Hàn và tiếng Việt còn thiếu nhất quán. Dấu hiệu nhận diện câu hỏi dùng để hỏi, hành động hỏi yêu cầu cung cấp thông tin được một số nhà nghiên cứu đề cập nhưng chưa đầy đủ. Đặc biệt, hành động hỏi yêu cầu cung cấp thông tin được thực hiện gián tiếp bởi các biểu thức không mang kết cấu hỏi chưa được chú ý và nhận diện.
Trong thực tế, việc xác định một hệ thống thuật ngữ phù hợp để sử dụng trong một nghiên cứu cụ thể là cần thiết. Trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu có trước, chúng tôi hệ thống và xác định các thuật ngữ sử dụng trong luận án. Các tiêu chí, qui trình nhận diện hành động hỏi được xác định là căn cứ nhận diện hành động ngôn từ khi khảo sát, phân tích và thống kê xử lí tư liệu.
2.3. Về phương tiện ngôn ngữ thực hiện hành động hỏi
Khảo sát các công trình liên quan cho thấy: Hai phương thức trực tiếp và gián tiếp khi thực hiện hành động hỏi trong tiếng Hàn và tiếng Việt bước đầu nhận được sự quan tâm và đầu tư nghiên cứu. Phương tiện ngôn ngữ thực hiện hành động hỏi trực tiếp là các biểu thức mang kết cấu hỏi. Trong tiếng Hàn là 단순의문문-“câu hỏi đơn thuần” của tác giả Seo Soon Hee [115] , 순수의문문-“câu hỏi thuần túy” trong Park Young Soon [109] Trong tiếng Việt là “câu hỏi chính danh” của tác giả Lê Đông [19], Cao Xuân Hạo [26], Võ Đại Quang [54] , “câu nghi vấn chân chính” của tác giả Nguyễn Kim Thản [60], “câu hỏi thẳng” của tác giả Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung [9], “câu hỏi thực” của tác giả Nguyễn Việt Tiến [69] .Thuật ngữ chỉ câu hỏi dùng để hỏi xuất hiện đa dạng, phong phú theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Hàn ngữ và Việt ngữ.
Phương tiện ngôn ngữ thực hiện hành động hỏi gián tiếp là các “cấu trúc ngôn ngữ không mang hình thức hỏi nhưng cũng có hiệu lực tại ngôn như câu hỏi” [69, tr.17]. Theo tác giả Lee Jang Deuk [99, tr.63-64], hành động hỏi được thực hiện bởi 3 loại phương tiện ngôn ngữ: i) các biểu thức chứa các động từ thể hiện thái độ/ trạng thái tường minh (이것이 무엇인지 모르겠다- Không biết cái này là cái gì?); ii) biểu thức kết cấu hỏi thực hiện hành động hỏi trực tiếp (이게 무엇인가?- Cái này là cái gì?); iii) sử dụng ngữ điệu hỏi lên cao ở cuối câu (여기?-Ở đây?). Ngoài ra, còn có các biểu thức có động từ (대답하다-trả lời ), hay tổ hợp từ (알려주다-cho biết, 말해 주다-nói cho .) yêu cầu cung cấp thông tin tường minh.
Hồi đáp ngôn ngữ giúp nhận diện rõ hơn lực ngôn trung của hành động ngôn từ. Đây cũng chính là lí do các nghiên cứu về hành động hỏi và câu hỏi đều đề cập ít nhiều đến mối quan hệ giữa hỏi-trả lời/ đáp. Trong Hàn ngữ có nghiên cứu của các tác giả Ko Seung Hwan [95], Lee Eun Young [96], Lee Ik Hwan [97], Lee Ik Seup, Chae Wan [98], Park Young Soon [109], Yang Myung Hee [120], Trong Việt ngữ có nghiên cứu của các tác giả Lê Đông [18,19], Nguyễn Chí Hòa [34], Võ Đại Quang [54], Đặng Thị Hảo Tâm [58], Nguyễn Thị Thúy [68], Lê Anh Xuân [74, 75, 76, 77], Nguyễn Thị Hoàng Yến [81] .Nhìn chung, các tác giả đều quan tâm đến: i) mối quan hệ giữa hỏi và trả lời/ đáp, ii) mức độ nghi vấn và trả lời/ đáp, iii) các kiểu loại/ phương thức trả lời .Điều này cho thấy, phản ứng của đối tượng tiếp nhận và chịu ảnh hưởng trực tiếp của hành động ngôn từ đã được các nhà nghiên cứu chú ý.
Kết quả khảo sát cho thấy một vài hạn chế trong nghiên cứu đặc điểm các phương tiện ngôn ngữ thực hiện hành động hỏi trong tiếng Hàn và tiếng Việt như sau:
(1) Hành động hỏi gián tiếp với phương tiện ngôn ngữ không phải là kết cấu hỏi chưa được quan tâm và đầu tư nghiên cứu một cách đầy đủ.
(2) Hành động hỏi với tư cách là hành động ngôn từ trực tiếp thực hiện bởi kết cấu hỏi có vị trí khá mờ nhạt trong các nghiên cứu liên quan.
(3) Các nhà nghiên cứu chưa chú trọng việc đồng thời xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố như độ tường minh tiền giả định (đến vận động hội thoại ), hiện tượng tỉnh lược (đến độ tường minh của tiền giả định, thể hiện lịch sự ), phép dùng kính ngữ (đến hiệu quả giao tiếp) trong thực hiện hành động hỏi.
Để khắc phục những tồn tại trên, luận án tập trung phân tích “hành động hỏi yêu cầu cung cấp (giải thích, lựa chọn, phán định và xác nhận) thông tin chưa biết/ chưa rõ cần biết/ cần làm rõ”. Cụ thể là xem xét: i) Đặc điểm hành động hỏi trực tiếp thực hiện bởi biểu thức có hình thái kết cấu hỏi; ii) Đặc điểm hành động hỏi gián tiếp thực hiện bởi biểu thức không có hình thái kết cấu hỏi và hành động hỏi thực hiện bởi các mô hình kết hợp các biểu thức hỏi. Luận án thực hiện nghiên cứu theo hướng ngữ dụng học, dành sự quan tâm thích đáng đến hành động hồi đáp và các yếu tố tình thái-ngữ dụng trong ngữ cảnh giao tiếp tương tác ngôn ngữ cụ thể.
 
Top