• Các thành viên của E4VN nên đọc ebook bằng máy đọc sách Kindle để tránh mỏi mắt, hại mắt. Tham khảo các dòng máy đọc sách nổi tiếng tại https://www.maydocsach.vn/may-doc-sach-kindle/ Tất cả tài liệu, ebook đều là miễn phí.
    LƯU Ý: SPAM SẼ BỊ KHÓA TÀI KHOẢN NGAY LẬP TỨC, ĐỒNG THỜI CHẶN LUÔN TÊN MIỀN!!!
  • may doc sach kindle

Chuyên Đề NHÌN LẠI QUÁ KHỨ ĐỐI MẶT THÁCH THỨC MỚI-chương trình 135

Hovishop

Thành Viên Tích Cực
#1
1. Chương trình 135 giai đoạn II được đánh giá là đạt được kết quả tốt khi xem
xét về tính phù hợp và hiệu quả chương trình; kết quả tương đối tốt khi đánh
giá về nhận thức của người hưởng lợi và chất lượng các dịch vụ chương trình
cung cấp, về hiệu quả trong xác định đối tượng của chương trình, và về hiệu
quả trong quản lý và thực hiện chương trình. Hợp phần thực hiện tốt nhất là dự
án xây dựng cơ sở hạ tầng, trong khi đó các hợp phần về phát triển sản xuất
và hợp phần đào tạo vẫn cần phải nỗ lực hơn nữa. Đối với các chính sách cải
thiện sinh kế trong hợp phần 4 mới được đưa vào triển khai, vẫn còn quá sớm
để đưa ra nhận định.
2. Sự cân đối và phối kết hợp giữa các chính sách/dự án khác nhau trong chương
trình 135 giai đoạn II vẫn còn là một thách thức ở một số xã. Các xã chủ yếu
vẫn chú trọng vào hợp phần cơ sở hạ tầng. Phương thức tiếp cận theo chiều
dọc trong các hợp phần có thể được cải thiện bằng cách thiết kế sao cho có thể
kết hợp các dự án/chính sách trong khuôn khổ một bản kế hoạch phát triển địa
phương mang tính chiến lược. Bản kế hoạch địa phương này có thể được điều
chỉnh cho phù hợp với các điều kiện khác nhau của từng xã.
3. Sự phối hợp giữa Chương trình 135-II và các Chương trình MTQG khác về Giảm
nghèo vẫn còn là một vấn đề ở cả cấp trung ương và cấp địa phương. Nếu nhìn
nhận một cách tích cực, việc thiết kế các dự án/chính sách theo chiều dọc này
không cân nhắc đầy đủ về khả năng bổ sung lẫn nhau và tác động tổng lực của
các dự án chính sách; hay nhìn nhận mang tính phê bình nhiều hơn, cách thiết
kế này có khả năng gây ra các yếu tố chồng chéo và không thống nhất giữa các
chương trình, dẫn tới việc lãng phí các nguồn lực của quốc gia và của các nhà
tài trợ, tăng chi phí giao dịch đáng kế ở các cấp chính quyền khác nhau, từ đó
dẫn tới hiệu quả và hiệu suất thấp trong thực hiện chương trình. Sáng kiến hỗ
trợ 61 huyện nghèo nhất, nếu đảm bảo được cơ chế phù hợp và qui trình thực
hiện cải tiến hơn từ những bài học từ chương trình MTQG-GN và chương trình
135-II, sẽ tạo ra một cơ hội có một không hai nhằm xác định lại vai trò và trách
nhiệm theo cách bố trí có lợi cho tất cả các bên và để cải thiện sự điều phối.
4. Đối thoại chính sách giữa UBDT và các đối tác phát triển trong khuôn khổ hỗ trợ
ngân sách, việc thống nhất một bộ chỉ tiêu chung để theo dõi đánh giá theo một
Ma trận Chính sách, và cơ chế đánh giá tiến độ phối hợp giữa cơ quan Chính
phủ và các nhà tài trợ, các công cụ giám sát đánh giá mới được đưa vào thực
hiện trong chương trình (khảo sát cơ sở dữ liệu đầu vào, hệ thống báo cáo AMT/
PMT, báo cáo kiểm toán hàng năm, và khảo sát sự hài long của người dân), tất
cả là những yếu tố tích cực giúp quá trình phối hợp tốt hơn giữa các chương
trình công và các nguồn viện trợ, để có các chương trình có hiệu quả và hiệu
suất cao hơn, và huy động nguồn lực tốt hơn. Tuy nhiên, các chỉ tiêu đề ra trong khung kết quả cần phải tính đến tính phức tạp trong việc thực hiện chương trình
trong một môi trường pháp lý và điều tiết phức tạp, năng lực thể chế ở các cấp
địa phương còn hạn chế, và tính đa dạng về điều kiện đặc thù, tình hình cụ thể
ở địa phương.
5. Việc xây dựng năng lực thể chế ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã cần được coi là
một điều kiện bắt buộc. Hệ thống triển khai chính sách dân tộc của UBDT ở cấp
địa phương chưa có đủ cán bộ có đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ của mình
và để thực hiện vai trò lãnh đạo điều phối chương trình một cách đầy đủ tại địa
phương. Năng lực hiện nay của cán bộ ở cấp huyện và xã là một hạn chế lớn
đối với việc nâng cao hiệu quả và hiệu suất.
6. Một số khuyến nghị cho giai đoạn 2009 – 2010 là:
ã Thực hiện một vài điều chỉnh đối với các quy trình lập kế hoạch và lập ngân sách hiện hành theo định hướng quản lý theo kết quả;
ã Cải thiện quá trình phối kết hợp;
ã Dựa trên mô hình và cơ chế quản lý của chương trình 135-II, đóng góp
xây dựng một mô hình thực hiện rõ ràng và bài bản cho sáng kiến mới
nhằm giúp 61huyện nghèo nhất trên cơ sở (i) cấp ngân sách trọn gói cho
các huyện và lập các Quỹ Phát triển xã (CDF) cho các xã và (ii) hệ thống
phân tầng hợp đồng thực hiện từ cấp trung ương tới cấp huyện, từ cấp
huyện tới cấp xã;
ã Nâng cao hiệu quả xác định đối tượng của chương trình bằng cách đưa
ra một định nghĩa về nghèo đói riêng, dễ hiểu và toàn diện; và tập trung
các dự án/chính sách vào các hộ nghèo ở các xã thuộc CT 135-II;
ã Thực hiện các quy định mới về mua sắm đấu thầu; khuyến khích đấu
thầu cộng đồng
ã Tăng cường quản lý cả vòng đời của dự án cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ
cho việc quản lý, vận hành và duy tu bảo dưỡng công trình;
ã Cải tiến việc thực hiện hợp phần hỗ trợ sản xuất sao cho phù hợp hơn
và dễ tiếp cận hơn đối với người hưởng lợi;
ã Hướng dẫn và đào tạo nhằm tăng cường tính chất có sự tham gia và có
sự phân cấp của quá trình thực hiện chương trình;
ã Mở rộng quy mô và chất lượng Theo dõi và Đánh giá và liên kết việc
TD&ĐG với cơ chế động viên khuyến khích, hướng theo cách quản lý
dựa vào kết quả;
ã Kiên quyết giải quyết thách thức lớn về xây dựng năng lực bằng một kế
hoạch xây dựng năng lực tổng thể thí điểm.
7. Một số khuyến nghị trong trung hạn(2011-2015) đó là:
ã Tập trung chương trình giảm nghèo mục tiêu vào các khu vực nghèo
nhất, nghĩa là các xã nghèo nhất trong 61 huyện nghèo nhất, và xây
 

Đính kèm

Top